CẢM ƠN BẠN ĐÃ DÀNH THỜI GIAN CHO DESTINATION REVIEW

Đón đầu xu hướng cùng các tin tức mới nhất và những quan điểm, phân tích sâu sắc về kinh doanh, quản lý và phát triển du lịch cùng chúng tôi.

    Bằng cách gửi biểu mẫu này, bạn đồng ý nhận liên lạc qua email từ Destination Review

    EuroCham Vietnam (EuroCham) là một tổ chức được công nhận rộng rãi và từng nhận được bằng khen của Chính phủ nhờ vai trò và đóng góp của mình đối với ngành du lịch – khách sạn cũng như toàn bộ ngành kinh tế của Việt Nam. Destination Review đã có cơ hội được trò chuyện cùng ông Martin Koerner – Chủ tịch Tiểu ban Du lịch, Nhà hàng – Khách sạn của EuroCham Việt Nam để lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp châu Âu trong ngành về việc tái mở cửa du lịch quốc tế.

    EuroCham đóng vai trò gì cho các doanh nghiệp cũng như cho ngành du lịch – khách sạn tại Việt Nam?

    EuroCham Vietnam viết tắt cho European Chamber of Commerce in Vietnam (Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam) – đây là một tổ chức giúp cho cá nhân mỗi doanh nghiệp có được tiếng nói mạnh mẽ hơn trong nước. Đa số các thành viên của EuroCham đến từ các quốc gia châu Âu, kể cả vùng Trung Âu và Đông Âu như Scandinavia, Đức, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, v.v. Hiện chúng tôi có hơn 1.000 thành viên, trong đó có rất nhiều thành viên là các tập đoàn đa quốc gia cũng như là các công ty vừa và nhỏ.

    EuroCham hoàn toàn không phải là tổ chức chính trị, chúng tôi không quan tâm đến vấn đề chính trị mà chỉ tập trung vào khía cạnh kinh doanh để lên tiếng trước Chính phủ và các bên liên quan. Điều này giúp chúng tôi có một đòn bẩy tốt bởi mục tiêu chính của chúng tôi vẫn là muốn cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Rất nhiều thành viên của EuroCham có liên quan đến ngành du lịch – khách sạn như hãng hàng không, khách sạn, nhà điều hành tour và đại lý du lịch. Đối với những thành viên này, họ mong muốn sẽ được đảm bảo môi trường kinh doanh ở đây là thuận lợi cho mình. Vì thế, chúng tôi vẫn luôn tích cực trao đổi với các bên liên quan tại Việt Nam để hợp tác tạo nên môi trường có lợi cho cả đôi bên. Với tư cách là một khách sạn hay một nhà điều hành tour riêng lẻ, tiếng nói của họ hầu như bằng không, nhưng khi họ tập hợp lại để trở thành một tổ chức lớn mạnh là EuroCham, lúc này tiếng nói của họ mới được chú ý đến.

    Đa số các thành viên EuroCham còn là các chủ đầu tư tại Việt Nam. Vậy điều này có ý nghĩa gì đối với ngành du lịch – khách sạn của Việt Nam? Theo Nghị quyết Chính phủ 103/NQ-CP đưa ra vào năm 2017 nhằm triển khai Nghị quyết Bộ Chính trị 08-NQ/TW 2017, ngành du lịch nên trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Và để hiện thực hóa điều này, Việt Nam cần có nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), cũng như cần các doanh nghiệp du lịch nước ngoài tại Việt Nam phát triển hơn nữa.

    Du lịch là một ngành phân nhánh: để du khách có thể đến Việt Nam, có rất nhiều thứ phải được thực hiện. Ví dụ như khi một du khách châu Âu quyết định đến Việt Nam, có rất nhiều yếu tố, ảnh hưởng đến quyết định đi du lịch của họ trước khi họ thật sự đặt chân vào nước. Ngoài ra, cũng có rất nhiều bước liên quan đến nhiều công ty và các cơ quan khác. Để ngành du lịch phát triển, Việt Nam phải phụ thuộc vào cả các đối tác trong và ngoài nước – các đối tác trong nước có thể là các khách sạn (nhiều khách sạn hiện cũng đang được quản lý và điều hành bởi các công ty quốc tế như Marriott hay Accor), còn các đối tác nước ngoài có thể là các nhà đầu tư và các công ty nước ngoài. Để ngành phát triển, chúng ta phải làm việc cùng nhau và đây là điều Tiểu ban Du lịch, Nhà hàng – Khách sạn rất vui được thực hiện. Chúng tôi giúp ngành du lịch Việt Nam bằng cách đảm bảo rằng các ý kiến chuyên môn, kiến thức và FDI được tận dụng một cách tối ưu nhất tại đây.

    Với tư cách là đại diện cho các công ty châu Âu, ông đánh giá như thế nào đối với những khó khăn mà các doanh nghiệp này phải chịu trong cơn khủng hoảng mang tên Covid-19?

    Nói ngắn gọn, tất cả các thành viên của EuroCham đều bị ảnh hưởng bởi Covid-19, tôi nghĩ không có bất cứ doanh nghiệp nào thấy vui hay may mắn vì dịch bệnh xảy ra cả. Dù cho có một vài công ty vẫn đạt được lợi nhuận vào năm ngoái, đây chỉ là những trường hợp ít so với tổn thất chung. Trong năm 2020, vì tình hình bệnh dịch, không chỉ du lịch quốc tế hầu như quay về con số không kể từ tháng 2-3 mà du lịch nội địa cũng sụt giảm khá đáng kể. Điều này có nghĩa là ngành du lịch bị sụt giảm khoảng 30-40% so với năm 2019, bởi lẽ trước các lệnh cấm đi lại, Việt Nam không có thêm lượt khách quốc tế nào.

    Vì thế, rất nhiều các khách sạn trong thành phố và các nhà điều hành tour cho khách nước ngoài bị ảnh hưởng nặng nề. Một vài công ty may mắn nhận được sự hỗ trợ từ châu u và từ đó có thể chi trả cho nhân viên. Tuy nhiên, đáng buồn là, một vài công ty khác phải rút văn phòng đại diện khỏi thành phố Hồ Chí Minh, một vài công ty thì không còn lựa chọn nào khác ngoài cắt giảm nhân sự, chỉ giữ lại đội ngũ nòng cốt và đối với số khác, họ buộc phải cắt giảm đáng kể hay buộc phải ngừng hoạt động hoàn toàn.

    Nói chung, với các khách sạn, nhà điều hành tour hay các hãng hàng không, những công ty vững mạnh về tài chính sẽ cầm cự được qua cơn khủng hoảng trong khi các công ty yếu thế hơn bị đẩy ra khỏi thị trường. Khi ngành phục hồi trở lại, các công ty vững mạnh tài chính này sẽ chiếm được thị phần lớn hơn sau khi các công ty yếu thế hơn đã rời khỏi thị trường. Vì thế, nếu công ty nào vẫn còn trụ lại ở đây, họ sẽ có được vị thế cao hơn nhiều khi thị trường quay trở lại.

    Tiểu ban Du lịch, Nhà hàng – Khách sạn chúng tôi cũng đã tích cực đưa ra các hướng dẫn nhằm giúp Chính phủ biết cách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong ngành du lịch – khách sạn. Các gợi ý cụ thể của chúng tôi bao gồm khuyến nghị Chính phủ xem xét chính sách thuế, đề xuất các hình thức giúp đỡ khác như các gói cứu trợ, v.v. Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham gia vào các hội nghị để chia sẻ các kiến thức chuyên môn và các kinh nghiệm trong ngành nhằm hướng đến việc nối lại du lịch nội địa một cách an toàn. Chúng tôi cũng có viết một hoặc hai bức thư gửi đến Chính phủ để nói rõ các mối quan ngại và đề nghị Chính phủ giúp đỡ các thành viên của chúng tôi – những đơn vị đã bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng. Kết quả là, chúng tôi rất cảm kích vì đã nhận được một số hành động hỗ trợ từ Chính phủ.

    Hầu hết các nước Đông Nam Á như Singapore và Thái Lan có các chương trình thị thực rõ ràng để tạo điều kiện tốt nhất cho du khách nhập cảnh – điều này giúp họ có được số lượt khách quốc tế khá lý tưởng. Trong khi đó, Việt Nam chỉ miễn thị thực đối với một số nước nhất định: như các công dân có hộ chiếu Đức và Pháp được miễn thị thực khi vào Việt Nam nhưng các công dân của Hà Lan và Thụy Sỹ lại không được. Điều này không công bằng khi mà các du khách đều đến từ châu Âu và mức thu nhập của họ hầu như là ngang nhau và lý do cho sự phân biệt này không được giải thích rõ ràng. Nếu Việt Nam muốn thu hút được nhiều khách du lịch quốc tế có ngân sách cao từ các nước giàu có, chúng ta cần phải giúp cho toàn bộ du khách đến đây dễ dàng nhất có thể. Đây không phải là vì tiền mà là vì sự tiện lợi, du khách chỉ muốn đặt vé máy bay và đi tới điểm đến, chỉ vậy thôi.

    Hơn nữa, đối với những du khách được miễn thị thực, khoảng thời gian 15 ngày vẫn là quá ngắn vì có thể họ muốn ở lại từ 3 đến 4 tuần. Chúng tôi vẫn không thể tìm ra được lý do thỏa đáng cho việc giới hạn thời gian lưu trú của du khách trong vòng 2 tuần này. Ví dụ như, một du khách Đức có thể đi đến Thái Lan và ở lại đó lâu hơn 2 tuần, nhưng họ chỉ được phép ở tối đa 14 ngày nếu đi đến Việt Nam. Họ có thể đã muốn ở tại Việt Nam lâu hơn 2 tuần nhưng do quy định của Chính phủ, họ quyết định rút ngắn kỳ nghỉ của mình chỉ để không phải làm đơn xin gia hạn thị thực. Trong khi đó, điều quan trọng là chúng ta phải giữ chân được các khách hàng có mức chi tiêu cao lâu nhất có thể. Điều này cần được thể hiện trong các chính sách và cơ cấu pháp lý của Chính phủ để cộng đồng các doanh nghiệp có thể nhận được hỗ trợ tốt hơn.

    Trên danh nghĩa của EuroCham, chúng tôi đã liên tục nêu vấn đề này lên các cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, và đề nghị Chính phủ thay đổi một số chính sách nhất định so với chính sách hiện hành. Tuy nhiên, Chính phủ cần phải có các biện pháp cụ thể hơn nữa.

    Chính phủ Việt Nam cần phải xem xét vấn đề hộ chiếu vắcxin ngay từ bây giờ. Chúng ta thấy có những nước như các nước thành viên EU, UAE, Mỹ và Anh đã tiến hành tiêm phòng. Vì vậy vấn đề đặt ra bây giờ là chúng ta sẽ đón tiếp các du khách đã tiêm phòng như thế nào? Để hiện thực hóa điều này, các câu hỏi về cách thức hộ chiếu vắcxin, cách các chính sách thị thực và quy định liên quan hoạt động cần phải được Chính phủ tập trung giải quyết từ bây giờ, từ đó các doanh nghiệp trong ngành mới có được đường hướng rõ ràng để phát triển trong tương lai.

    Các quốc gia khác đã đi trước Việt Nam một bước khi họ cho phép các du khách đã tiêm phòng miễn thị thực. Ở Việt Nam chưa có quy định hay bộ hướng dẫn rõ ràng về vấn đề này dù Chính phủ đã tiến hành thảo luận. Đối với ngành du lịch và khách sạn, chúng tôi cần có cái nhìn tổng quan về việc hộ chiếu vắcxin sẽ phát triển ra sao. Ví dụ, một du khách Pháp có hộ chiếu vắcxin đến Việt Nam, họ có được miễn thị thực hay không? Họ vốn được miễn thị thực theo chương trình cũ nhưng chương trình này đã bị tạm dừng từ lúc đại dịch xuất hiện, vậy giờ đây họ sẽ được áp dụng thị thực nào? Đây là những câu hỏi mang tính pháp lý mà Chính phủ phải trả lời. Chỉ khi Chính phủ trả lời được, du lịch quốc tế mới có thể chính thức tái khởi động.

    Tại các nước châu Âu và Mỹ, bảo hiểm du lịch được sử dụng rộng rãi. Có rất nhiều công ty bảo hiểm của châu Âu thắc mắc rằng bảo hiểm du lịch được áp dụng như thế nào tại Việt Nam. Ví dụ như các khách sạn hay các đơn vị vận tải có giấy chứng nhận an toàn nào liên quan đến phòng chống Covid-19 hay không? Các công ty bảo hiểm du lịch châu u muốn biết liệu các khách sạn tại đây có bất cứ chứng nhận nào cho thấy họ đã thực hiện các biện pháp an toàn để phòng chống dịch như bố trí nước rửa tay và phun khử khuẩn hay chưa. Thông thường, các khách sạn và các đơn vị cung cấp dịch vụ sẽ nhận được giấy chứng nhận của Hiệp hội Du lịch & Lữ hành thế giới (WTTC) nhưng ở Việt Nam lại chưa áp dụng hệ thống chứng nhận quốc tế nào dù có một vài chứng nhận của địa phương. EuroCham cũng đã kiến nghị về vấn đề này với các nhà chức trách liên quan vào năm ngoái và hiện vấn đề đang được thảo luận để giải quyết.

    Có rất nhiều yếu tố phải được thực hiện để làm nên quá trình phục hồi thành công. Và nhờ việc EuroCham nhận được rất nhiều thông tin từ các doanh nghiệp, chúng tôi cố gắng đóng góp kiến thức, chuyên môn của mình về tình hình hiện tại đến với các nhà chức trách tại Việt Nam để giúp các doanh nghiệp cũng như ngành du lịch phục hồi sớm nhất có thể.

    Ông có thể chia sẻ một vài lời khuyên dành cho cách doanh nghiệp và thị trường để chuẩn bị cho tương lai sắp tới được không?

    Tôi nghĩ với tình hình hiện tại, mọi người đều đang nín thở và cố gắng vượt qua thử thách. Cuối cùng thì, các công ty cần phải cân bằng được giữa chi phí và doanh thu nhờ các chính sách tối ưu hóa để giảm chi phí và tăng doanh thu. Giờ đây, thị trường du lịch nội địa trở thành nguồn duy nhất để họ dựa vào. Các công ty vốn từng phụ thuộc nhiều vào khách quốc tế có thể cần phải thay đổi chiến lược của mình để hướng đến nhóm du khách nội địa nhiều hơn, để khi du lịch quốc tế được nối lại, họ sẽ có thể quay trở lại mô hình kinh doanh trước đây của mình. Đây là lời khuyên duy nhất mà tôi có thể dành cho các doanh nghiệp lúc này vì mọi thứ khác đều phụ thuộc vào các quy định và chính sách của Chính phủ.

    Sẽ tốt hơn nếu Chính phủ bắt tay vào thiết lập các kế hoạch tái mở cửa ngay từ bây giờ. Tôi biết rằng đây là một quá trình phức tạp, tuy nhiên nếu có được ít nhất một bộ hướng dẫn cho việc nối lại du lịch quốc tế, mọi thứ sẽ xán lạn hơn nhiều. Ngược lại, nếu không có một bản thảo kế hoạch chính thức nào từ Chính phủ, việc tái mở cửa và phục hồi sẽ mất nhiều thời gian hơn.

    Bên cạnh đó, Việt Nam có một số lợi thế to lớn, nhờ vào cách thức phòng chống dịch phi thường trong thời gian vừa qua để quảng bá với hình ảnh một điểm đến an toàn. Các công ty tại châu Âu vẫn không biết được tình hình của nước ta như thế nào, điều này có nghĩ là các công tác PR và truyền thống có thể được nâng cao hơn nữa để quảng bá hình ảnh của Việt Nam đến với các thị trường khách chính. Vì vậy, một khi tái mở cửa, Việt Nam nên đầu tư ngân sách nhà nước thêm cho việc tiếp thị điểm đến của mình thông qua cách chúng ta đối phó với dịch bệnh. Nhờ đó, tôi nghĩ rằng sẽ có rất nhiều du khách muốn đến đây.

    Về cơ bản, thị trường tại Việt Nam vốn đã rất cởi mở với các doanh nghiệp, tuy nhiên, chúng ta luôn có thể cải thiện một số điểm hơn nữa cho tương lai dài hạn. Các chỉ số thống kê của Việt Nam là một trong những điểm có thể được nâng cao hơn nữa. Hầu hết các nước khác có các phân tích chi tiết và nâng cao để tận dụng tối đa nguồn thông tin của mình trong khi Việt Nam chỉ có những con số chung chung. Thông thường, các chỉ số thống kê chuẩn quốc tế sẽ thể hiện được cụ thể tổng số lượt khách, trong đó khách du lịch nghỉ dưỡng là bao nhiêu, khách du lịch công vụ là bao nhiêu, và những người về nước thăm gia đình và bạn bè là bao nhiêu. Nói cách khác, các nước khác nắm được rất rõ từng phân khúc du khách. Còn thống kê của Việt Nam chỉ dừng lại ở mức có bao nhiêu người có hộ chiếu nước ngoài nhập cảnh vào nước chứ không phân biệt mục đích nhập cảnh của họ. Trong khi đó, tại Việt Nam, có rất nhiều người là Việt Kiều về thăm quê, về nghỉ Tết Nguyên đán. Những người này không thực sự đóng góp nhiều cho ngành du lịch vì họ đa số chọn ở nhà thay vì thuê phòng khách sạn 5 sao trong thành phố. Nếu chúng ta có thể thấy được tỉ lệ phần trăm của từng phân khúc khách và xác định được các bên liên quan trọng điểm, các thành viên EuroCham như các công ty đầu tư, các nhà điều hành khách sạn hay các đơn vị tổ chức hội nghị sẽ có đủ dữ liệu để có thể đưa ra các quyết định đầu tư tương ứng cho phù hợp với tình hình.

    Cám ơn ông rất nhiều vì chia sẻ quan điểm của EuroCham cho Destination Review!

    TAKE-A-SIP | EuroCham Vietnam: “Chúng ta phải giúp du khách đến đây dễ dàng nhất có thể.”

    THANKS FOR YOUR
    REGISTRATION!

    The requirement was accepted, please check your email for the document.
    Close